Mục Sư Tiến Sĩ Ngô Minh Quang

Máy ảnh hay máy chụp hình trong tiếng Anh là camera là một dụng cụ dùng để thu ảnh thành một ảnh tĩnh hay thành một loạt các ảnh chuyển động gọi là phim hay video. Chữ camera có gốc từ tiếng La tinh là camera obscura nghĩa là "phòng tối", vì các máy ảnh đầu tiên là một cái phòng tối với vài người làm việc trong đó. Máy ảnh có thể làm hoạt đông ở phổ ánh sáng thấy được hoặc ở các vùng khác trong phổ bức xạ điện từ.

Mỗi máy ảnh thường có một khoảng kín, khoảng này có một đầu là lỗ ống kính để cho ánh sáng đi vào và đầu kia là nơi ghi ảnh hay xem ảnh. Hầu hết các máy ảnh đều có ống kính gắn ở phía trước để gom ánh sáng lại và hội tụ thành ảnh trên bề mặt ghi ảnh. Đường kính của lỗ ống kính thường được kiểm soát bằng cơ chế diaphragm, nhưng cũng có những máy ảnh có lỗ ống kính không đổi. Kích thước của lỗ ống kính và độ sáng của cảnh chụp quyết định lượng ánh sáng đi vào máy ảnh trong một khoảng thời gian, và màn trập điều khiển thời gian mà ánh sáng chiếu lên bề mặt ghi ảnh. Ví dụ, trong khung cảnh ít sáng, tốc độ màn trập nên chậm (tức là mở lâu hơn) để tấm phim nhận được thêm ánh sáng.

Do tính chất của ống kính máy ảnh, chỉ có những vật nằm trong một khoảng cách nào đó mới được thấy rõ. Quá trình điều chỉnh khoảng cách đó gọi là lấy nét trên máy ảnh. Có vài cách để lấy nét. Máy ảnh đơn giản nhất dùng cách lấy nét cố định với một lỗ ống kính nhỏ và ống kính góc rộng sao cho mọi thứ trong khoảng cách nào đó từ ống kính (thường là từ 3 mét tới vô cực) đều tương đối rõ nét. Cách này thường thấy ở loại máy ảnh dùng một lần rồi bỏ hoặc máy ảnh rẻ tiền. Một kiểu máy ảnh khác có một số khoảng rõ nét gọi là lấy nét bậc, các khoảng này được chỉ trên thân máy. Người dùng sẽ ước lượng khoảng cách của đối tượng rồi chọn bậc rõ nét tương ứng. Các bậc có thể được vẽ thành các biểu tượng như đầu và vai, hai người đứng, một cái cây, ngọn núi.

Máy ảnh đo khoảng cách qua lỗ ngắm cho phép đo khoảng cách tới đối tượng bằng một máy đo thị sai trên đầu máy. Máy ảnh SLR cho phép người chụp nhìn qua lỗ ngắm thấy ảnh sắp chụp và lấy nét trước khi chụp. Máy ảnh phản chiếu hai ống kính dùng một ống kính để chụp và một ống kính để lấy nét, hai ống kính này được liên kết với nhau để chỉnh cùng một lúc. Máy ảnh ngắm thẳng cho ảnh rọi lên một tấm kính mờ để ngắm, ngắm xong thì thay tấm kính mờ bằng tấm phim để chụp. Máy ảnh thời nay thì có chức năng lấy nét tự động. Máy ảnh thường thu ánh sáng trên tấm phim ảnh hoặc kính ảnh. Máy quay video và máy ảnh số dùng dụng cụ điện tử, thường là bộ cảm biến CCD hoặc CMOS để thu ánh sáng rồi ghi vào băng hoặc bộ nhớ, sau đó có thể xem lại hoặc xử lý ảnh. Máy ảnh thu nhiều ảnh liên tiếp gọi là máy quay phim; máy chỉ thu từng ảnh gọi là máy chụp ảnh. Tuy nhiên ranh giới giữa hai loại này không còn rõ ràng nữa. Máy quay video là loại máy quay phim nhưng thu hình bằng phương pháp điện tử (analog hoặc digital). Máy ảnh nổi chụp được hình giống như có ba chiều bằng cách chụp 2 hình khác nhau rồi ghép lại để tạo ảo giác về bề sâu của hình. Máy ảnh nổi có 2 ống kính cạnh nhau.

Một số máy ảnh phim có thể in ngày lên tấm phim. Ảnh cố định đầu tiên được chụp năm 1826 bởi Joseph Nicéphore Níepce bằng một máy ảnh hộp gỗ do Charles and Vincent Chevalier làm ra ở Paris. Níepce dựa trên phát hiện của Johann Heinrich Schultz (năm 1724): hỗn hợp bạc và phấn bị đen lại khi gặp ánh sáng. Tuy nhiên, đó là thời điểm bắt đầu của nhiếp ảnh, còn máy ảnh thì còn sớm hơn nữa. Trước khi phát minh ra phim ảnh thì không có cách nào để giữ lại ảnh từ các máy ảnh ngoài cách đồ lại bằng tay. Máy ảnh đầu tiên đủ nhỏ và mang đi được để chụp ảnh được làm bởi Johann Zahn năm 1685, gần 150 năm trước khi kỹ thuật đủ sức làm ra tấm ảnh. Các máy ảnh đầu tiên giống máy của Zahn, thường có thêm những cái hộp trượt ra-vào để lấy nét. Mỗi lần thu hình, một tấm chất nhạy sáng được đặt vào chỗ màn ảnh ngắm. Qui trình daguerreotype của Jacques Daguerre dùng tấm đồng, còn qui trình calotype do William Fox Talbot phát minh thì thu hình lên tấm giấy.

Frederick Scott Archer tìm ra qui trình tấm collodion ướt năm 1850, làm giảm đáng kể thời gian rọi sáng, nhưng người chụp phải tự chuẩn bị tấm kính trong một phòng tối di động ngay trước khi chụp. Các qui trình tấm ambrotype và tintype ướt rất phổ biến trong nửa sau của thế kỷ 19 mặc dù chúng hơi phức tạp. Các loại máy ảnh chụp tấm ướt hơi khác các kiểu máy trước, mặc dù cũng có một vài kiểu cho phép đặt tấm nhạy sáng bên trong máy thay vì ở trong một phòng tối rời (ví dụ như kiểu máy Dubroni năm 1864). Một số máy ảnh có nhiều ống kính để chụp ảnh cỡ tấm danh thiếp. Kiểu máy chụp với phần thân xếp co giãn để lấy nét trở nên phổ biến trong thời kỳ chụp ảnh tấm ướt này.

Có một bé gái sau khi đi học về nói với mẹ là ngày mai bé và các bạn trong lớp được chụp hình. Mẹ của bé đã chuẩn bị một bộ đồ thật đẹp cho bé. Đêm đó trước khi đi ngủ, bé mặc thử bộ quần áo, rồi ngắm nhìn trong gương. Sau đó vì quá mệt, bé ngủ lúc nào không hay. Trong giấc mơ, bé thấy Chúa chụp hình cho bé. Máy chụp hình của Chúa thật kỳ diệu, chụp ngay cả tư tưởng sâu kín của bé, chụp cả những ý nghĩ đen tối tội lỗi trong lòng. Bé sợ quá, la lên rồi giật mình thức dậy, mẹ bé từ phòng bên cạnh chạy qua, hỏi vì sao bé lại thức giấc lúc nửa đêm và thét lên như thế? Bé thuật lại cho mẹ về chiếc máy chụp hình của Chúa, đến đây mẹ bé bảo, con đừng sợ, vì dầu tội lỗi con có nặng nề đến đâu, một khi bé xưng tội mình ra, xin Chúa tha thứ, Chúa là Đấng giữ lời hứa sẽ tha thứ mọi lỗi lầm của bé.

Thánh Kinh cho biết là Chúa thấy hết mọi sự. Ngài biết mọi ý nghĩ và những toan tính trong lòng người như trong Thi Thiên 139:

Chúa Hằng Hữu ôi, Ngài đã quan sát và biết con.
Chúa biết khi con ngồi hay đứng
Dù ở xa Chúa hiểu tư tưởng con.
Chúa xét xem lộ trình, quán trọ,
Ngài quen thuộc từng hành động con.
Lời con nói chưa ra khỏi miệng
Chúa của con đã biết hết rồi…
Chúa thấy hết xương cốt con,
Khi con được tạo ra nơi kín đáo
Kết hợp từ cát bụi.
Khi con còn phôi thai,
Chúa thấy con,
Sách Chúa ghi chép đời con từng ngày,
Trước khi con sinh ra.
(Thi Thiên 139:104 & 15-16)

Những câu Thánh Kinh nầy cho thấy Đức Chúa Trời biết rõ từng chi tiết của chúng ta, ngay cả những ý nghĩ thầm kín tiềm ẩn trong lòng. Một nhân vật trong Thánh Kinh cũng nói rằng:

Chúa thấy tất cả việc tôi làm, quan sát tôi từng đường đi nước bước.
Xin đem tôi cân trên cân công bằng, để Đức Chúa Trời thấy lòng tôi ngay thẳng.
Nếu tôi tẻ tách đường lối Chúa,
Nếu lòng tôi nổi lên thèm khát những gì mắt tôi thấy, hoặc nếu tay tôi dính dấp vào tội ác…
Vì Chúa biết tội ác thế nhân,
Không cần tìm, Ngài thấy hết dối gian.
(Gióp 31:4,6-7 & 11:11).

Chẳng những Đức Chúa Trời biết rõ hết mọi hành động, tư tưởng, ước mơ thầm kín của chúng ta, Ngài còn quan tâm lo lắng cho chúng ta như lời phán của Chúa Cứu Thế rằng: "Hai con chim sẻ chỉ bán một xu, nhưng nếu Cha các con không cho phép, chẳng một con nào rơi xuống đất. Ngài biết cả số tóc trên đầu các con. Đừng lo sợ, vì các con quý hơn chim sẻ" (Mathiơ 10:29-30). Tình thương của Chúa thật bao la. Dầu Ngài là Đức Chúa Trời cao cả nhưng Ngài vẫn nhớ đến con người hèn hạ, yếu đuối, tội lỗi của chúng ta. Chúa không chỉ yêu chúng ta qua lời nói, nhưng Ngài còn yêu chúng ta qua hành động: chính Chúa đã từ trời cao giáng thế làm người và chết thế cho tội lỗi của con người.

Thánh Kinh ký thuật lại rằng: "Đang khi chúng ta bó tay tuyệt vọng, Chúa Cứu Thế đã đến đúng lúc để chết thay cho chúng ta, là người tội lỗi, xấu xa. Thông thường, ít thấy ai chịu chết cho người công chính, hiền lương, nhưng dù sao, nghĩa cử ấy còn có thể xảy ra. Nhưng Đức Chúa Trời đã chứng tỏ tình yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi Chúa Cứu Thế chịu chết thay chúng ta là người tội lỗi. Trước là người tội lỗi, ta còn nhờ máu Chúa mà được tha thứ, nay ta sạch tội rồi, hẳn Ngài sẽ cứu ta khỏi hình phạt khủng khiếp Đức Chúa Trời dành cho thế gian. Trước là kẻ thù Đức Chúa Trời, ta còn được giải hòa với Ngài nhờ sự chết của Con Ngài, nay ta đã hòa thuận rồi, hẳn Ngài sẽ giải cứu ta do sức sống bất diệt của Ngài. Ngoài ra, chúng ta còn có vinh dự được tương giao khắng khít với Đức Chúa Trời, do công lao Chúa Cứu Thế Giê-xu, vì nhờ Ngài, chúng ta được hòa thuận với Đức Chúa Trời". (Rôma 5:6-11)

Trong thời đế quốc La Mã, hoàng đế Julius Caesar đã xuống thuyền rời khỏi Rome để tránh sự xung đột nội bộ ngày càng căng thẳng. Trên đường đến đảo Aegean, hoàng đế bị bọn cướp biển tấn công, bị bắt, và bị đòi tiền chuộc là 12.000 thỏi vàng. Ban tham mưu của hoàng đế đem đủ số vàng để chuộc hoàng đế về sau 40 ngày sống với bọn cướp. Khi bị bắt, hoàng đế nói đùa với bọn cướp rằng, một ngày nào đó chúng sẽ bị bắt và bị xử tử trên thập tự. Sau khi được thoát, hoàng đế đã đem hạm đội đánh đuổi bọn cướp, bắt tất cả và đóng đinh chúng trên thập tự.

Thưa quý vị, việc xử tử trên thập tự giá chỉ dành cho những phạm nhân nguy hiểm. Thế mà Chúa Cứu Thế Jesus là Đấng vô tội đã bị xử tử như vậy. Ngài là Đấng Tạo Hóa trong thân xác con người, vì muốn cứu cả thế nhân mà giáng thế làm người, để rửa sạch mọi tội của loài người chúng ta. Tất cả chúng ta đều đã phạm tội, mắt Chúa đã nhìn thấy tất cả. Nhưng vì yêu chúng ta, Ngài đã gánh hết mọi tội lỗi và sự gian ác chúng ta trên thập tự giá. Chúa yêu quý vị, Chúa chết vì quý vị, rất mong quý vị đến với Chúa ngay giờ nầy.

Kính chào quý vị và các bạn.