Kính thưa quý thính giả,
Khi mất đi người mẹ dấu yêu, cô bé “Lọ Lem” đã mất đi một nơi nương tựa của tình thương. Cuộc đời của “Lọ Lem” bước vào những ngày đau khổ khi cô gặp phải bà mẹ ghẻ ghét bỏ cô.
Mỗi chúng ta là tạo vật quý yêu nhất của Thiên Chúa. Thế nhưng tại sao đời người lại đóng chặt trong cảnh khổ đau triền miên với “sinh, lão, bịnh, tử”? Từ lúc nào con người phải gánh chịu khổ đau như vậy? Chuyện gì đã xảy ra? Mời quý vị cùng chúng tôi đi ngược dòng thời gian, trở lại những ngày sáng thế, khi hai người đầu tiên là A-đam và Ê-va đang vui hưởng mọi phước hạnh trong vườn Địa Đàng với Thiên Chúa.
Sách Sáng Thế Ký có ghi lại như sau:
“Thiên Chúa khiến từ đất mọc lên đủ mọi thứ cây trông thì đẹp, ăn thì ngon, với cây trường sinh ở giữa vườn, và cây cho biết điều thiện điều ác. Một con sông từ Ê-đen chảy ra tưới khu vườn, và từ đó chia thành bốn nhánh. Thiên Chúa truyền lệnh cho con người rằng: “Hết mọi trái cây trong vườn, ngươi cứ ăn ; nhưng trái của cây cho biết điều thiện điều ác, thì ngươi không được ăn, vì ngày nào ngươi ăn, chắc chắn ngươi sẽ phải chết.”
Rắn là loài xảo quyệt nhất trong mọi giống vật ngoài đồng, mà Thiên Chúa đã làm ra. Nó nói với người đàn bà: “Có thật Thiên Chúa bảo: ‘Các ngươi không được ăn hết mọi trái cây trong vườn’ không?”. Người đàn bà nói với con rắn: “Trái các cây trong vườn, thì chúng tôi được ăn. Còn trái trên cây ở giữa vườn, Thiên Chúa đã bảo ‘Các ngươi không được ăn, không được động tới, kẻo phải chết.” Rắn nói với người đàn bà: “Chẳng chết chóc gì đâu! Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác.” Người đàn bà thấy trái cây đó: ăn thì phải ngon, trông thì đẹp mắt, và đáng quý vì làm cho mình được tinh khôn. Bà liền hái trái cây mà ăn, rồi đưa cho cả chồng đang ở đó với mình; ông cũng ăn. Bấy giờ mắt hai người mở ra, và họ thấy mình trần truồng: họ mới kết lá vả làm khố che thân.
Nghe thấy tiếng Thiên Chúa đi dạo trong vườn lúc gió thổi trong ngày, con người và vợ mình trốn vào giữa cây cối trong vườn, để khỏi giáp mặt Thiên Chúa. Thiên Chúa gọi con người và hỏi: “Ngươi ở đâu?” Con người thưa: “Con nghe thấy tiếng Ngài trong vườn, con sợ hãi vì con trần truồng, nên con lẩn trốn.” Thiên Chúa hỏi: “Ai đã cho ngươi biết là ngươi trần truồng? Có phải ngươi đã ăn trái cây mà Ta đã cấm ngươi ăn không?” Con người thưa: “Người đàn bà Ngài cho ở với con, đã cho con trái cây ấy, nên con ăn.” Thiên Chúa hỏi người đàn bà: “Ngươi đã làm gì thế ?” Người đàn bà thưa: “Con rắn đã lừa dối con, nên con ăn.”
Thiên Chúa nói: “Này con người đã trở thành như một kẻ trong chúng ta, biết điều thiện điều ác. Bây giờ, đừng để nó giơ tay hái cả trái cây trường sinh mà ăn và được sống mãi.” Thiên Chúa đuổi con người ra khỏi vườn Ê-đen để cày cấy đất đai. Ngài trục xuất con người, và ở phía đông vườn Ê-đen, Ngài đặt các thần hộ giá với lưỡi gươm sáng lóe, để canh giữ đường đến cây trường sinh.
Kính thưa quý thính giả,
Bắt đầu từ hai người đầu tiên là A-đam và Ê-va mà tội lỗi đã trở nên bản chất trong mỗi con người chúng ta. Có thể quý vị và tôi không phạm pháp, nhưng không ai là vô tội trước mặt Thiên Chúa cả. Ngài thấu rõ chúng ta, từ trong suy nghĩ ra đến hành động. Trước mặt Ngài, có ý ganh ghét được xem ngang như tội giết người, có cái nhìn bất chính với người khác phái được xem như là dâm ô. Đó là chưa kể những việc phải làm nhưng chúng ta thoái thác hay làm ngơ. Có mấy ai trong chúng ta biết ơn Thiên Chúa vì Ngài ban cho chúng ta đời sống, hơi thở, phương tiện, gia đình, người thân, bè bạn? Nếu soi trước tấm gương tuyệt đối thánh khiết của Thiên Chúa, tất cả chúng ta đều lấm láp, lọ lem y hệt như cô bé “Lọ Lem” thật tội nghiệp, vì lời của Đấng Tạo Hóa đã khẳng định “Mọi người đã phạm tội và bị tước mất vinh quang Thiên Chúa” (Rô-ma 3:23).
Quý thính giả thân mến,
Linh hồn là linh chất của Thiên Chúa ban cho, cảnh cáo chúng ta đã phạm tội. Một người đam mê tửu sắc, cờ bạc, sâu thẳm từ đáy lòng, cũng tự biết đây là điều tội lỗi. Một người lường gạt cảm thấy xấu hổ và tìm cách lánh mặt người mà mình làm tổn thương. Lạ lùng thay, mặc dầu lương tâm lên án, nhưng chúng ta vẫn “chứng nào, tật nấy” hay “ngựa quen đường cũ”, không sao dứt bỏ được những “ma lực”, những “lợi lộc nhãn tiền” mà tội lỗi hứa hẹn. Chính Phao-lô, một tu sĩ ngày xưa, mặc dầu hiểu rõ luật thánh của Thiên Chúa và lương tâm mong ước làm điều lành, nhưng không sao cưỡng lại hấp lực của tội lỗi, đã diễn tả tình trạng bất lực của mình, qua lời than vãn đầy tuyệt vọng như sau: “Tôi làm gì tôi cũng chẳng hiểu: vì điều tôi muốn, thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét, thì tôi lại cứ làm. Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm. Tôi thật là một người khốn nạn! Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này?” (Rôma 7:15,19,24).
Kính thưa quý thính giả,
Chính tu sĩ Phao-lô đã nói giùm cho nỗi thất vọng riêng mỗi chúng ta. Cả thế giới này đang bị tội lỗi thống trị. Xã hội càng văn minh nhưng tội ác càng nhiều và không còn có cách chi cứu chữa. Tội lỗi làm ngăn cách, gia đình tan vỡ, bạn bè chia lìa, nhóm này hiềm khích nhóm kia, nước này tiêu diệt nước khác. Khủng khiếp hơn nữa, tội lỗi làm con người xa cách Thiên Chúa là nguồn của sự sống và tình yêu. Có phải vì đang bị tội lỗi “đè đầu, cỡi cổ” mỗi ngày mà chúng ta rất cảm thông cho hoàn cảnh bị ức hiếp thật tội nghiệp của cô bé “Lọ Lem” chăng? Có phải qua hình ảnh đáng thương của cô bé “Lọ Lem” bị bà mẹ kế và hai đứa em hành hạ, đay nghiến, chúng ta thấy được hình ảnh của chính mình đang bị tội lỗi vây hãm mỗi ngày chăng?
Trong câu chuyện “Cô Bé Lọ Lem”, một bà tiên hiện ra, ban cho cô bé nào xe, nào giày, các đồ trang sức và một chiếc áo dạ hội tuyệt đẹp, để cô bé “Lọ Lem” được một lần trong đời, trút bỏ mớ giẻ rách, được dự dạ tiệc, được gặp gỡ hoàng tử và sau cùng hoàng tử đã giải thoát nàng khỏi cảnh đời cơ cực. Trong cuộc đời thật của chúng ta, thì ai có thể giúp chúng ta dứt bỏ những ràng buộc của tội lỗi, xóa đi những mặc cảm trong tâm hồn và nối kết chúng ta trở lại với Thiên Chúa là nguồn của sự sống, tình yêu và phước hạnh vĩnh cữu?
Kính thưa quý thính giả,
Tất cả chúng ta đều đã phạm tội với Thiên Chúa và luật công bình của Ngài khẳng định: “Ai phạm tội, kẻ ấy phải chết” (Ê-xê-chi-ên 18:4). Vì tội lỗi, tất cả chúng ta mặc dầu sống nhưng đang chuẩn bị chờ chết và khủng khiếp hơn nữa là chờ ngày bị phán xét trước Thiên Chúa về những vi phạm của mình, như lời Kinh Thánh có ghi rõ: “Phận con người là phải chết một lần, rồi sau đó chịu phán xét” (Hê-bơ-rơ 9:27).
Từ trời cao, Thiên Chúa với tình thương bao la, cảm thông tình trạng bất lực của con người trong tội lỗi với bản án đời đời đang chờ sẵn, nên Thiên Chúa Ngôi Hai đã tự nguyện xuống trần làm người để cứu con người. Hài nhi Giê-xu, nhờ một trinh nữ sinh ra cách đây hơn 2000 năm, chính là Thiên Chúa hạ sinh trong thân xác con người. Ngài lớn lên, bày tỏ tình thương trọn vẹn trong mọi suy nghĩ, lời nói và việc làm của mình, nhưng Ngài đã bị những kẻ đạo đức giả vu khống, bắt giữ, tra tấn và làm nhục. Mặc dầu không kiếm được Ngài có lỗi gì, nhưng cuối cùng người ta vẫn xử tử Ngài thật nhục nhã và đau thương trên cây thập tự. Khi tự nguyện chết trên thập hình, cũng chính là lúc Chúa Giê-xu đang lãnh bản án tội thay cho mọi người, trong đó có quý vị và tôi, theo đúng như chương trình cứu rỗi loài người mà Thiên Chúa đã hoạch định ngay sau khi A-đam và Ê-va đã phạm tội.
Quý thính giả thân mến,
Vì tình yêu, Thiên Chúa đã dựng nên loài người, để chúng ta trở nên đối tượng tình yêu, trở nên bạn hữu quyến luyến của Ngài. Cũng vì tình yêu, Thiên Chúa đã sai Con Ngài là Chúa Giê-xu giáng trần, chết thế cho tội lỗi của chúng ta, hầu cho chúng ta có cơ hội nối chắp lại tình bạn với Đấng Tạo Hóa. Chúa Giê-xu đã bày tỏ tình yêu trọn vẹn của Thiên Chúa với con người qua sự tự nguyện giáng trần, chịu hy sinh chính mạng sống của Ngài vì chúng ta. Lời tâm sự từ người bạn chân thật Giê-xu, nhắc nhở tình thương bao dung của Ngài đối với chúng ta như sau: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Giăng 15:13).
Kinh Thánh ghi lại những giờ phút cực kỳ bi ai và đau khổ, khi Chúa Giê-xu đã vì tội lỗi của chúng ta, đã phải gánh chịu chết thế như sau:
Những kẻ bắt Giê-xu giải Ngài đến thầy tế lễ thượng phẩm Cai-phe, là nơi các văn sĩ và các trưởng lão đã nhóm lại. Các thầy tế lễ cả và cả công hội đều tìm chứng dối cáo Giê-xu để giết đi, nhưng dầu có nhiều người làm chứng dối đến cũng không tìm được chứng nào cả. Rồi họ trói Ngài giải đi, nộp cho Phi-lát là quan tổng đốc.
Giê-xu đứng trước mặt quan tổng đốc; quan hỏi rằng: "Ngươi có phải là Vua dân Do-thái không?" Giê-xu đáp rằng: "Phải, như quan nói đó." Vả, đến kỳ lễ, quan tổng đốc thường thả một tù phạm cho dân chúng, tùy ý họ muốn. Bấy giờ có một tù phạm nổi tiếng, tên là Ba-ra-ba. Khi dân chúng nhóm họp, thì Phi-lát hỏi rằng: "Các ngươi muốn ta thả người nào, Ba-ra-ba hay là Giê-xu?" Vì quan biết rõ bởi sự ganh ghét mà dân chúng đã nộp Ngài. Song các thầy tế lễ và các trưởng lão dỗ dành quần chúng hãy xin Ba-ra-ba và diệt Giê-xu. Chúng thảy đều đáp rằng: "Đóng đinh hắn trên thập tự giá." Quan hỏi: "Sao, người đã làm ác gì?" Nhưng chúng lại càng kêu rầm lên rằng: "Đóng đinh hắn trên thập tự giá!". Phi-lát thấy lời mình không thắng gì nổi, bèn thả Ba-ra-ba cho chúng, còn Giê-xu thì đánh đòn rồi giao Ngài để đóng đinh trên thập tự giá.
Họ lột trần Ngài, lấy áo hồng mà khoác cho Ngài, đan một mão miện gai đội trên đầu Ngài, để một cây lau trong tay hữu Ngài; rồi quỳ xuống trước mặt Ngài mà chế giễu rằng: "Mừng Vua dân Do-thái!" Họ nhổ trên Ngài, lấy cây lau đánh đầu Ngài. Khi chế giễu Ngài rồi, thì họ cổi áo ấy ra, mặc áo của Ngài lại cho Ngài, rồi giải Ngài đi để đóng đinh trên thập tự giá tại một nơi gọi là Gô-gô-tha, nghĩa là chỗ cái sọ. Khi đã đóng đinh Ngài trên thập tự giá rồi, thì họ bắt thăm mà chia áo xống Ngài; rồi ngồi đó mà canh giữ Ngài.
Đến giờ thứ sáu khắp xứ đều tối tăm cho tới giờ thứ chín. Qua giờ thứ chín Giê-xu kêu lớn tiếng rằng: “Ê-lô-i, Ê-lô-i, lam-ma sa-bác-tha-ni?” có nghĩa là: “Đức Chúa Trời tôi ôi, sao Ngài lìa bỏ tôi?” Đoạn Giê-xu kêu một tiếng lớn, rồi tắt hơi. Bức màn trong đền thờ bị xé ra làm hai từ trên chí dưới.